Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người có duyên nợ với báo chí
- Thứ sáu - 07/08/2026 08:36
- In ra
- Đóng cửa sổ này

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người thầy vĩ đại của nền Báo chí Cách mạng Việt Nam. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Vì duyên nợ mà Bác Hồ tổ chức báo chí
Một điều đặc biệt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh: Người có mặt ở đâu thì ở đó có báo chí.
Năm 1917 khi đến nước Pháp, Người bắt đầu học viết báo từ những người cách mạng, tiến bộ, những người bạn Pháp. Năm 1922, giữa lòng Paris, Nguyễn Ái Quốc cùng những người bạn thuộc địa sáng lập Le Paria (Người cùng khổ) và trở thành linh hồn của tờ báo. Có lúc, Người làm tất cả các công việc của tòa báo, từ biên tập, viết bài, tổ chức in ấn và phát hành. Le Paria đã là tiếng nói của những dân tộc bị áp bức, trong đó có Việt Nam và xứ Đông Dương, đang tìm cách cất lên tiếng nói của mình trước thế giới.
Năm 1925, tại Quảng Châu, Người sáng lập báo Thanh Niên, cơ quan tuyên truyền của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin về trong nước, góp phần chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau khi chủ trì Hội nghị thành lập Đảng, Người trực tiếp tổ chức xuất bản Tạp chí Đỏ, tiền thân của Tạp chí Cộng sản nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục chính trị, huấn luyện cán bộ, đảng viên.
Những năm hoạt động ở Cao Bằng, Người cho ra đời báo Việt Nam Độc lập. Sau Cách mạng Tháng Tám, Người chỉ đạo thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam, xuất bản báo Cứu Quốc, Sự thật, rồi Nhân Dân, tạp chí Học tập (sau này là Tạp chí Cộng sản). Mỗi tờ báo ra đời trong một hoàn cảnh khác nhau, phục vụ những nhiệm vụ khác nhau, nhưng đều có chung một mục đích là truyền bá tư tưởng cách mạng, tập hợp lực lượng, thức tỉnh lòng yêu nước và cổ vũ nhân dân hành động vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân.
Nhìn một cách khái quát, Hồ Chí Minh sáng lập báo khi cách mạng cần có vũ khí đấu tranh; tổ chức báo chí khi nhân dân cần được giác ngộ, tập hợp và dẫn dắt. Trong tư duy của Hồ Chí Minh, báo chí trước khi là một nghề nghiệp, phải là một phương tiện phục vụ cách mạng. Mỗi tờ báo là một tờ hịch cách mạng; mỗi bài báo là một lời hiệu triệu; mỗi người làm báo cũng là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng.
Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Một đời cầm bút vì độc lập dân tộc và hạnh phúc Nhân dân
Vì duyên nợ mà suốt cuộc đời cầm bút, Bác Hồ chỉ viết về một đề tài: Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Nhìn bề ngoài, đề tài báo chí của Hồ Chí Minh vô cùng phong phú. Người viết về các dân tộc thuộc địa, về phong trào cách mạng thế giới, về thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ; viết về binh pháp, khởi nghĩa, kháng chiến, kiến quốc; viết về sản xuất, tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, về giáo dục, văn hóa, đạo đức và xây dựng con người mới. Hầu như không có lĩnh vực nào của đời sống cách mạng và đời sống xã hội mà Người không quan tâm.
Nhưng về bản chất, Người chỉ theo đuổi một chủ đề lớn: cuộc đấu tranh chống xâm lược, áp bức, vì độc lập của dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Và mục đích cuối cùng của độc lập của dân tộc và chủ nghĩa xã hội cuối cùng chính là tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho Nhân dân. Người đã lý giải như một chân lý dễ hiểu: "Nếu độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì".
Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là nhà báo mà còn là độc giả tích cực của báo chí trong nước và thế giới. Bác tự rèn mình một phong cách đọc báo đều đặn, nghiêm túc. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp đọc báo tại ATK Thái Nguyên, năm 1947. Ảnh: Tư liệu TTXVN
Những năm ở Pháp, Người viết để tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, đòi quyền sống cho các dân tộc thuộc địa. Trong những bài báo đăng trên Le Paria, Nhân đạo và nhiều tờ báo tiến bộ khác, Nguyễn Ái Quốc xuất hiện như một người phát ngôn của những dân tộc bị áp bức trên thế giới. Ngòi bút của Người không chỉ phản ánh hiện thực mà còn tạo nên "Bản án" vạch trần bản chất bóc lột, áp bức, vô nhân đạo của chế độ thực dân Pháp.
Khi cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ chuẩn bị lực lượng, Người viết để truyền bá con đường cứu nước, thức tỉnh lòng yêu nước và khơi dậy ý chí đấu tranh giành độc lập. Trong những năm kháng chiến, Người viết để cổ vũ tinh thần chiến đấu, củng cố niềm tin vào thắng lợi, đồng thời kiên quyết vạch trần âm mưu và tội ác của các thế lực xâm lược. Khi đất nước hòa bình, Người lại viết về xây dựng cuộc sống mới, về chống những thói hư tật xấu, chống quan liêu, tham ô, lãng phí, về tất cả những gì có thể ảnh hưởng đến đời sống của Nhân dân.
Đối tượng phản ánh có thể thay đổi. Kẻ thù của dân tộc cũng thay đổi qua từng giai đoạn lịch sử. Nhưng điều Hồ Chí Minh bảo vệ thì không thay đổi, đó là quyền được sống trong độc lập, tự do và hạnh phúc của Nhân dân Việt Nam. Mọi bài báo của Người đều bắt đầu từ những sự kiện cụ thể, con người cụ thể, vấn đề cụ thể của cuộc sống, để từ đó phân tích bản chất của vấn đề, đâu là chính nghĩa, phi nghĩa; đâu là lợi ích của Nhân dân, những gì đang cản trở lợi ích ấy.
Có thể nói, với Hồ Chí Minh, báo chí chính là một phương tiện đấu tranh cho dân tộc, một công cụ phục vụ Nhân dân và một vũ khí sắc bén chống lại mọi thế lực áp bức, xâm lược. Dù viết về điều gì, cuối cùng ngòi bút ấy vẫn hướng về một mục tiêu duy nhất: nước nhà được độc lập, dân tộc được tự do và Nhân dân hạnh phúc.
Vì duyên nợ mà Người luôn tự hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc?
Năm 1962, trong bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III Hội Nhà báo Việt Nam, Hồ Chí Minh nói: "Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Nêu lên ba câu hỏi nổi tiếng: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc?". Hơn 60 năm đã trôi qua, ba câu hỏi ấy vẫn được xem như những nguyên lý căn bản của nghề báo cách mạng.
Mỗi khi viết một bài báo, thì tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn dễ đọc?
Chủ tịch Hồ Chí Minh
Với Hồ Chí Minh, Nhân dân không chỉ là đối tượng phục vụ của báo chí mà còn là nguồn sức mạnh làm nên lịch sử. Bởi vậy, người làm báo trước hết phải hiểu mình đang nói với ai, đang phục vụ ai và đang bảo vệ lợi ích của ai. Trả lời được câu hỏi ấy mới có thể xác định đúng mục đích và nội dung của bài viết.
Từ câu hỏi "viết cho ai" dẫn tới câu hỏi "viết để làm gì". Theo Người, viết là để phục vụ Nhân dân, phục vụ cách mạng, góp phần giải quyết những vấn đề của cuộc sống. Mỗi bài báo phải đem lại một điều gì đó có ích cho xã hội, giúp người đọc hiểu đúng hơn, hành động đúng hơn và tin tưởng hơn vào Đảng, vào cách mạng.
Và cũng chính vì viết cho nhân dân, viết để phục vụ Nhân dân nên phải "viết như thế nào" cho phổ thông, dễ hiểu, dễ đọc. Người nhiều lần phê phán lối viết dài dòng, sáo rỗng, thích dùng chữ khó hoặc nói những điều xa lạ với cuộc sống của quần chúng. Người yêu cầu người làm báo phải viết ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, thiết thực. Đó là thể hiện của sự tôn trọng Nhân dân và điều kiện bảo đảm hiệu quả bài báo. Muốn thế, nhà báo phải học Nhân dân để hiểu nhân dân để biết nói cái gì và nói thế nào cho nhân dân hiểu và tin.
Ba câu hỏi "Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?" không chỉ là những chỉ dẫn nghề nghiệp. Đó còn là một triết lý nhân văn sâu sắc về báo chí, đặt con người và lợi ích của Nhân dân vào vị trí trung tâm của mọi hoạt động báo chí truyền thông.
Tóm lại, nói đến duyên nợ báo chí của Hồ Chí Minh, thực chất là nói đến duyên nợ suốt đời của một con người suốt đời phấn đấu hy sinh vì nhân dân và đất nước. Duyên nợ ấy biểu hiện trong hoạt động báo chí của Người trước hết là một sự dấn thân. Dấn thân vào những vấn đề của đất nước, vào những mối quan tâm của Nhân dân và vào cuộc đấu tranh cho những điều tốt đẹp.
Bởi vậy, dù hoàn cảnh lịch sử đã khác, công nghệ truyền thông đã khác, nhưng những câu hỏi mà Hồ Chí Minh từng đặt ra vẫn còn nguyên giá trị. Người làm báo hôm nay vẫn cần biết mình đang viết cho ai, viết để làm gì và liệu những điều mình viết có thực sự đem lại lợi ích cho đất nước và nhân dân, cho xã hội và chế độ hay không.