BẮC KẠN SÁNG MÃI TINH THẦN CÁCH MẠNG

Thứ bảy - 03/01/2026 16:14   Đã xem: 32   Phản hồi: 0

Tác phẩm hỗ trợ chất lượng cao năm 2025. Thể loại: Bút ký Báo in; Tác giả: Triệu Hoàng Giang ; Liên Chi hội Báo và Phát thanh, Truyền hình Thái Nguyên.

 

Tỉnh Bắc Kạn có vị trí nằm trong căn cứ địa Việt Bắc, Thủ đô Kháng chiến, với các di tích lịch sử nơi từng bước chân kháng chiến còn in dấu như Đèo Giàng, Nà Tu, Nà Pậu… Vượt qua những năm tháng gian khó của chiến tranh, từ buổi đầu cách mạng, mảnh đất này sinh ra những người con sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản, đi đầu trong công cuộc đấu tranh và bảo vệ Tổ quốc. Tinh thần cách mạng ấy không chỉ là ký ức, mà vẫn đang cháy mãi trong trái tim của nhân dân các dân tộc Bắc Kạn hôm nay – khi quá khứ được khắc ghi, và hiện tại không ngừng tiếp nối.    

Ông Bàn Văn Hoan – người đảng viên đầu tiên của dân tộc  Dao    
Trong hành trình hoạt động cách mạng của Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên mảnh đất Bắc Kạn, nhiều địa danh như: Lủng Sao, Lủng Cháng, Khuổi Lừa, Bản Ca, Khuổi Ha,… xuất hiện. Đặc điểm chung của những bản đó là nơi cư trú lâu dài của đồng bào người Dao. Đó là minh chứng cho tinh thần yêu nước, giác ngộ cách mạng từ rất sớm của đồng bào người Dao ở tỉnh Bắc Kạn. Và người con tiêu biểu cho tinh thần cách mạng của người Dao đó là ông Bàn Văn Hoan – đảng viên người Dao đầu tiên.
Ông Bàn Văn Hoan tên thật là Bàn Văn Xuân, sinh ra và lớn lên ở thôn Lủng Cháng, xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể là người Dao Tiền, ông sinh năm 1910 (có tài liệu ghi là sinh 1909), lúc tham gia cách mạng lấy bí danh là Công Trình, sau lại lấy bí danh khác là Bàn Văn Hoan. Bố ông Hoan tên là Bàn Văn Kiều mất sớm, mẹ là Triệu Thị Nái quê ở Nà Cuốc, bản Sủ , xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn di cư sang Lủng Cháng lập nghiệp; em trai ông là Bàn Văn Chiểu sinh năm 1912 bí danh là Bàn Văn Cao.
Về chi tiết đồng chí Bàn Văn Hoan là Đảng viên đầu tiên của dân tộc Dao tiền. Hồi ký Con đường Nam Tiến, NXB Văn hoá dân tộc, 1995 của đồng chí Nông Văn Quang có ghi: “....Trước hết, thành lập khu Quang Trung riêng cho các vùng dân tộc Dao; bầu Ban Chấp hành Việt Minh khu trên cơ sở ba châu Lê Lợi, Kháng Pháp và Kháng Nhật1 (Châu Lê Lợi gồm xã Hoa Thám... Châu Kháng Pháp có các xã Hưng Đạo. Đội Cung... Châu Kháng Nhật tức châu Chợ đồn). Bầu cử bằng bỏ phiếu kín kết quả bầu Ban Chấp hành khu Quang Trung gồm: đồng chí Thượng bí danh Tuyên Truyền làm chủ nhiệm. Đồng chí Bàn Văn Hoan có bí danh là Công Trình làm phó chủ nhiệm và đồng chí Thành Công ủy viên Ban Chấp hành khu. Trong ba người có đồng chí Bàn Văn Hoan là người dân tộc Dao Tiền đầu tiên được kết nạp đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương....”
Đặc biệt, ông Bàn Văn Hoan còn là người em kết nghĩa với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong các tập Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: cuốn Những Chặng đường lịch sử có đoạn: “ …Trên dọc đường, có những khu mới thành lập. Đồng bào dân tộc Mán Tiền ở vùng giáp giới hai tỉnh Cao Bằng - Bắc Kạn, đã được tổ chức thành khu Quang Trung. Khi qua vùng này, tôi vào ở lại nhà đồng chí Hoan, người đảng viên đầu tiên của dân tộc Mán Tiền. Gia đình tiếp đón rất niềm nở. Để giữ bí mật cho cán bộ, vợ chồng đồng chí Hoan đã nhường phòng riêng cho chúng tôi. Theo tục lệ lâu đời, đồng bào Mán tiền rất kiêng, không bao giờ để người lạ ở trong phòng riêng của vợ chồng. Đêm nằm nghe các em ở những nhà bên vừa giã gạo vừa ê a học Việt Minh ngũ tự kinh, vui vui, thấy tư tưởng cách mạng đã được truyền đi khá xa, các ban xung phong Nam tiến đã tiến hành công tác khá tốt.…”.
Trong một lần đi công tác ông Hoan đã bị bắt ở Lủng Viền, huyện Ngân Sơn do tên Quản Chiểu Đình và đưa về giam ở nhà tù Bắc Kạn. Ngày 16/ 5/1944 cùng các ông Phan Văn Long là người ở xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn và ông Nông Văn Bọc (ông Bọc là anh ruột của nhà thơ Nông Quốc Chấn và nhà văn Nông Viết Toại , xã Cốc Đán , huyện Ngân Sơn), địa điểm xử bắn tại Km 7, đường Bắc Kạn - Chợ Đồn thuộc địa phận xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông hiện nay.
Sau ngày xử bắn ông Hoan, giặc Pháp bắt mẹ và vợ con ông cùng gia đình em ruột là ông Bàn Văn Cao đi quản thúc ở khu Pá Danh (xã Huyền Tụng, TX. Bắc Kạn), cuộc sống vô cùng khổ sở, khi Nhật đảo chính Pháp tháng 3 – 1945 họ mới được thả về.
Hài cốt ông Bàn Văn Hoan đã được em ruột là Bàn Văn Cao đưa về táng tại Lủng Cháng, xã Hà Hiệu, ông đã được nhà nước truy tặng là liệt sĩ. Sau này, theo yêu cầu của con gái ông Bàn Văn Hoan, hài cốt ông Hoan đã được đưa về quy tập tại Nghĩa trang Liệt sĩ của huyện Ba Bể, hiện tên ông có ghi trên Nhà bia liệt sĩ xã Hà Hiệu.
Sau này, đồng chí Văn có dịp gặp lại mẹ nuôi (tức mẹ ông Hoan), tập Hồi ký Nhân dân ta rất anh hùng của Đại tướng cũng có hai đoạn ghi chi tiết này: “…Tới Hà Hiệu, rẽ vào nhà đồng chí Hoan, gia đình nói cho biết, đồng chí Hoan đã bị bắt, có lẽ chúng đã giải về Bắc Kạn…” và đoạn: “… Về Hà Hiệu, chúng tôi dừng lại, cử người vào hỏi thăm đồng chí Hoan. Bà mẹ đồng chí Hoan theo đồng chí liên lạc ra rừng gặp chúng tôi. Cụ vừa khóc vừa kể lại, đồng chí Hoan bị địch bắt đem về Bắc Kạn, chúng tra tấn anh mười một lần chết đi sống lại để truy tìm tung tích cách mạng, anh vẫn không khai một lời, cuối cùng, chúng đã bắn chết anh. Cụ nhất định đòi chúng tôi phải vào nghỉ trong nhà. Bản này chỉ có vài ba gia đình, hết thảy đều tốt. Chúng tôi theo cụ vào nhà. Chị Hoan kể lại cho chúng tôi… Trước ngày anh Hoan bị bắn, chị có lên Bắc Kạn thăm. Anh Hoan nói với chị: “Có lẽ nó sẽ bắn tôi, nhưng ở nhà đừng lo, cách mạng thể nào cũng thành công. Ở nhà phải trung thành với đoàn thể, giúp đỡ anh em cán bộ hoạt động”. Rồi anh đưa cho chị một miếng cao và nói: “Tôi có miếng cao hổ cốt này, đêm về giữ lấy cẩn thận, gặp đồng chí Văn thì nói tôi có lời hỏi thăm, và nhờ đưa miếng cao này cho đồng chí dùng để giữ sức khỏe mà làm công tác”. Tôi nhìn miếng cao trong tay chị Hoan, nước mắt muốn trào ra.
Bà mẹ đồng chí Hoan trỏ cum lúa nếp để trên gác bếp, nói:
- Bây giờ Hoan đã mất, mùa màng lại kém, nhưng mùa nào mẹ cũng để dành thóc nếp cho các con đấy, cứ chờ đợi du kích mãi. Các con cố gắng giết sạch bọn Tây, bọn Nhật thời người Mán mới sống được…”
Những chi tiết trong cuốn hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là minh chứng rõ nhất cho tinh thân thần dũng cảm, trung thành với lý tưởng cách mạng của ông Bàn Văn Hoan. Ông là tấm gương sáng cho các thế hệ trẻ của tỉnh Bắc Kạn noi theo. 
Hiện nay, tên Bàn Văn Hoan đã được đặt tên cho một con đường tại trung tâm thành phố Bắc Kạn. Nơi ông bị xử bắn tại km7 đường Bắc Kạn – Chợ Đồn cũng được đặt bia công nhận Di tích lịch sử cấp tỉnh.
Không chỉ có những tấm gương hy sinh anh dũng như ông Hoan, Bắc Kạn còn tự hào về những con người âm thầm cống hiến cho văn hóa, tư tưởng cách mạng như nhà văn lão thành Cách mạng Nông Viết Toại- Đảng viên 80 năm tuổi Đảng đầu tiên của Bắc Kạn.
Nhà văn của núi rừng Bắc Kạn
Nhà văn dân tộc Tày Nông Viết Toại (tên thật là Nông Đình Hân), sinh ngày 26/4/1926, tại bản Nà Cọt, xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn trong một gia đình nông dân nghèo nhưng hiếu học. Ngày 07/11/2024 vừa qua, nhà văn, cán bộ lão thành cách mạng Nông Viết Toại đã vinh dự được nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng. Gặp chúng tôi, ông vẫn nhớ rõ từng chi tiết về những ngày đầu tham gia các mạng: Một chiều cuối tháng 4 âm lịch năm 1942, ông cùng anh trai Nông Quốc Chấn đang đắp bờ ruộng thì được anh Đồng Văn Đàn ở bản Hoàng Phài đến tuyên truyền vào Hội Việt Minh, dù mới 16 tuổi còn lơ mơ về tôn chỉ, mục đích của Việt Minh nhưng nghe anh Đàn nói vào hội thì sau này có thể được đi học bên Tàu, bên Nga đã tạo cho ông ấn tượng thích thú. Sau đó ít hôm, một buổi tối ông được triệu tập dự một cuộc họp trên đồi Còi Slằm do đồng chí Đồng Quang Tuân (bí danh Nhất Thống) và đồng chí Gia Quốc Toản (bí danh Đại Cát) chủ trì. Tại đây, ông đã được kết nạp vào hội, dưới ánh trăng đầu tuần tháng năm, ông giơ nắm tay lên thề vào hội. Trước khi giải tán cuộc họp, mọi người cùng giơ tay hô khẩu hiệu: “Toàn dân đoàn kết ! Đánh Tây đánh Nhật ! Hồng quân Nga đại thắng ! Tổng bộ Việt Minh vạn tuế.
Ngay từ những ngày đầu tham gia cách mạng, bằng tài năng văn học nghệ thuật và tình yêu quê hương, đất nước, nhà văn Nông Viết Toại đã có nhiều tác phẩm thơ và những sáng tác bằng văn vần bằng tiếng mẹ đẻ để tuyên truyền, vận động nhân dân làm cách mạng từ những ngày đầu tham gia Hội Việt Minh. Ông đã dịch một số ca khúc cách mạng ra tiếng Tày, những bài hát ấy được quần chúng nhân dân rất yêu thích. Năm 1947 ông bắt đầu làm thơ, những bài thơ như “Đi bộ đội”, “Đông qua xuân tới”… được  nhiều người mến mộ. Năm 1957 ông được dự một lớp bồi dưỡng về công tác văn hóa quần chúng do Vụ Nghệ thuật mở, từ đó ông bắt đầu viết truyện ngắn và dần khẳng định được tên tuổi. Cuối năm 1962 đến tháng 10/1963 ông được cử đi dự lớp bồi dưỡng lực lượng viết văn trẻ đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam tại Quảng Bá. 
Nhà văn Nông Viết Toại thuộc lớp thế hệ nhà văn đầu tiên của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam và của tỉnh Bắc Kạn. Ông có nếp sống giản dị, khiêm nhường, cả cuộc đời mình gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng và có những đóng góp to lớn cho văn học, nhất là việc sáng tác bằng tiếng Tày. Trong suốt chặng đường sáng tác, ông đã để lại một “gia tài” Văn chương không nhỏ, nhất là các sáng tác bằng tiếng Tày, về văn xuôi có: “Boỏng tàng tập éo” (1962), “Con đường Nam tiến” (1995 ); thơ có: Rại lóa vít pây (1956), Kin ngày phuối khát (1962), Đét chang nâư (1976), Ngoảc đếnh (2006), Tuyển tập Nông Viết Toại (2005 )... Ngoài ra ông còn viết tiểu luận, ghi chép. Việc sưu tầm vốn văn hóa văn nghệ dân gian cũng được ông giành nhiều tâm huyết. Ông đã cùng với Hà Vũ Khoanh (Ty Văn hóa Cao Bằng) dịch truyện thơ nôm Tày “Nam Kim - Thị Đan” sang tiếng Việt (xuất bản 1957); cộng tác cùng Nông Minh Châu, Lạc Dương, Vương Hùng sưu tầm và giới thiệu tục ngữ, ca dao, dân ca các tỉnh trong Khu tự trị Việt Bắc; cộng tác với Bế Ngọc Tượng giới thiệu ca dao, tục ngữ tỉnh Bắc Kạn; giới thiệu thơ lẩu Bắc Kạn do Triệu Đức Ngự sưu tầm… 
Điều đặc biệt, trong các tác phẩm của nhà văn Nông Viết Toại đề tài ca ngợi Đảng, tình yêu quê hương đất nước mà ông khắc họa một cách chân thật và sâu sắc. Tình yêu ấy không phải là những lời ca tụng hoa mỹ, mà là những gì giản dị, chân thành trong từng trang viết. Tình yêu đất nước của ông không chỉ gói gọn trong những chiến công hào hùng, mà còn thể hiện qua những hình ảnh giản dị của cuộc sống đời thường, của những con người không quản ngại gian khổ, hy sinh. Trong các tác phẩm của ông luôn nhấn mạnh đến tình yêu và sự tôn kính đối với quê hương. Qua đó, ông cũng gửi gắm thông điệp về lòng tự hào dân tộc, về sự đoàn kết, về ý chí kiên cường trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Một số tác phẩm tiêu biểu ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước như: Liển lỏ, Pây bộ đội…viết trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến các bài Pjá nỉ, Lẩn tuyện tức Mỵ… trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của thế kỷ XX đều thể hiện mạnh mẽ tinh thần yêu nước, sức mạnh chiến đấu giành độc lập tự do của dân tộc ta:

                             Lạo hâu củng chạn pền căn lẹo
                             Tức slấc vằn hâu chắng đảy hinh.
Tạm dịch nghĩa:
                              Nếu ai cũng lười nhác như nhau
                              Bao giờ mới đánh thắng quân giặc được.
                                                         (Liển lỏ)
Hay:
                                Chang cừn ma háu, cáy khăn
                                Nặm tha cá tốc nả lằm nhoòng Tây
                                Tẩy văn lẻ bặng tảy quây
                                Chứ thâng mẻ mé mầư pây pjá thù.
Tạm dich nghĩa:
                                Nửa đêm gà gáy chó sủa
                                Nước mắt cha rơi ướt má là tại thằng Tây
                               Mẹ đã mất mỗi ngày mỗi xa
                               Con nhớ tới mẹ hãy đi trả thù.
                                                          (Pây bộ đội) 
           Hoặc:         Lạo bấu slứn lẻ cạ Mỵ ác lai
                           Kẻo cút mà tò cheng au thai bấu lập.
Tạm dịch nghĩa:
          Người không biết tưởng giặc Mỹ hung hăng mạnh lắm
Nhưng chúng kéo đến đây tranh nhau chuốc lấy cái chết mà thôi.

Ở thể loại văn xuôi, tác phẩm Đoạn đường ngoặt của ông với nhân vật Lưu, đại diện cho người thanh niên dân tộc Tày ưu tú được giác ngộ cách mạng không hề nao núng trước sự đe dọa, săn tìm bắt bớ những người Cộng sản của kẻ thù để tiêu diệt, không ủy mị trước tình cảm cá nhân và Lưu đã vượt lên chính mình bằng lòng căm thù giặc sâu sắc, bên cạnh đó là hình ảnh của bố mẹ vợ, của Niệm, của Bây, ông Độ...cùng chung tấm lòng yêu nước nồng nàn, luôn sát cánh với Lưu giúp đỡ cách mạng. Tác phẩm đã đọng lại trong lòng bạn đọc một tình cảm ấm áp với tình cảm son sắt của Nhân dân các dân tộc Việt Bắc với Đảng, Đất nước, quê hương cùng với lòng tự hào, tự tôn dân tộc. 
Hai con người, hai số phận, một người hy sinh anh dũng trước họng súng của giặc, người kia lặng lẽ gieo mầm cách mạng bằng văn chương – họ là những ngọn lửa thắp sáng tinh thần yêu nước, bền gan bền chí, để Bắc Kạn mãi mãi là “miền đất đỏ” trong lòng người.
Tiếp nối truyền thống cách mạng trong xây dựng và phát triển đảng viên.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”; đảng viên là “sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng”. Tiếp nối truyền thống cách mạng từ các thế hệ cha anh những năm qua, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn được xác định rõ trong nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh từ khi tái lập tỉnh đến nay, đó là kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo, cụ thể hóa phù hợp với địa phương, cơ quan, đơn vị. Bám sát chủ trương, quan điểm của Trung ương, của tỉnh về công tác xây dựng Đảng, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã kịp thời cụ thể hóa bằng nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp với thực tiễn của tỉnh. Lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ, toàn diện công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức đảm bảo khoa học, có chất lượng, hiệu quả; đổi mới việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các văn bản của Đảng; ban hành các kế hoạch, kết luận; chương trình hành động triển khai thực hiện sát thực tiễn; chú trọng chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh đảm bảo kịp thời, chất lượng.   
Trong đó, tỉnh xác định công tác phát triển đảng viên là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, nhằm giúp bổ sung cho Đảng những quần chúng ưu tú, có đủ tiêu chuẩn, điều kiện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Việc kết nạp đảng viên mới vào Đảng không chỉ có ý nghĩa làm tăng về số lượng, mà qua đó còn từng bước cải thiện thành phần, cơ cấu, trẻ hóa đội ngũ đảng viên, khắc phục tình trạng “già hóa” ở các đảng bộ, chi bộ. Đồng thời, công tác phát triển đảng viên cũng cần chú trọng đến việc loại bỏ những đảng viên thoái hóa biến chất, đẩy lùi những quan niệm bảo thủ, trì trệ, duy ý chí,... trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nhờ đó, đã tạo nên những tác động tích cực trong công tác chính trị, tư tưởng, đạo đức trong đội ngũ đảng viên: 
Thứ nhất, xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, mẫu mực, có khát vọng, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới; tập trung được trí tuệ của tập thể trong việc lựa chọn, xác định hướng phát triển của tỉnh phù hợp với xu thế chung của đất nước, phù hợp với đặc điểm của tỉnh.
Thứ hai, đẩy mạnh công tác xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên. Chất lượng đảng viên ngày càng cao, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
Thứ ba, việc thực hiện trách nhiệm “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị được quan tâm, chỉ đạo quyết liệt. Nhiều đảng viên gương mẫu, đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương, đơn vị, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình an sinh xã hội, xây dựng nhà ở cho người có công, cựu chiến binh nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn...
Có thể nói, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và phát triển đảng viên tại tỉnh Bắc Kạn luôn được các cấp ủy quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện góp phần thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của địa phương, nhất là trong các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh; kiên quyết đấu tranh các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa.
Từ người đảng viên đầu tiên của dân tộc Dao là liệt sĩ Bàn Văn Hoan, đến nhà văn – đảng viên 80 năm tuổi Đảng Nông Viết Toại, Bắc Kạn đã và đang góp nhịp vào bản hùng ca của dân tộc bằng chính con người của mình – những con người thầm lặng nhưng bền gan, kiên định. Họ đã sống, chiến đấu, sáng tạo bằng tất cả trái tim dành cho quê hương đất nước. Tinh thần cách mạng ấy không chỉ được khắc ghi trên bia đá, tên đường hay những dòng hồi ký, mà còn được vun đắp mỗi ngày trong trái tim những người trẻ hôm nay. Để Bắc Kạn không chỉ sáng mãi trong lịch sử – mà còn bừng lên trong từng mùa phát triển mới./
Click để đánh giá bài viết

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập51
  • Máy chủ tìm kiếm5
  • Khách viếng thăm46
  • Hôm nay308
  • Tháng hiện tại366,296
  • Tổng lượt truy cập33,181,750

Hình ảnh nổi bật

23/QĐ - HNB

Quyết định Công khai quyết toán ngân sách năm 2024 của Hội Nhà báo tỉnh

Lượt xem:422 | lượt tải:165

327/KH- BTC

Kế hoạch tổ chức Giải báo chí toàn quốc về Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Giải Diên Hồng) lần thứ tư - năm 2026 Chủ đề " 80 năm Quốc hội Việt Nam"

Lượt xem:433 | lượt tải:145

09/KH-UBND

Kế hoạch Tổ chức Giải thưởng báo chí Huỳnh Thúc Kháng tỉnh Thái Nguyên lần thứ II - năm 2026

Lượt xem:589 | lượt tải:165

12/2024/TT-BTTTT

Thông tư 12/2024/TT-BTTTT

Lượt xem:921 | lượt tải:243

Mau ĐXKNHV - HNB

Mẫu đơn xin gia nhập Hội Nhà báo Việt Nam

Lượt xem:1143 | lượt tải:339

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây